Bỏ qua tới nội dung
Brief OS
Nghị quyết29/2022/UBTVQH15Hết hiệu lực một phầnMở trong không gian đọc ↗

Ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hộiNghị quyết số 29/2022/UBTVQH15 Ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Văn bản này được sửa đổi, bổ sung bởi 90/2025/UBTVQH15

hôm nay
Xem Điều tại một ngày

cụm bị bỏcụm thay thếkhoản có sửa đổiBấm huy hiệu cạnh tên Điều để đối chiếu với văn bản sửa đổi · nguyên văn trong kho không bị thay.

Đang hiện 72 / 72 Điều

Điều 42. Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Đối chiếu
1. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong trường hợp sau đây: a) Bổ sung dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở đề nghị của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án, dự thảo; b) Thay đổi phạm vi điều chỉnh, thời gian trình hoặc đưa ra khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trên cơ sở đề nghị của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo; c) Điều chỉnh thời gian trình, đưa ra khỏi chương trình đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trên cơ sở xem xét tình hình chuẩn bị của cơ quan, tổ chức có liên quan. 2. Việc xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được thực hiện như sau: a) Căn cứ lĩnh vực phụ trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Thường trực Ủy ban Pháp luật chuyển hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết đến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội để thẩm tra, đến cơ quan khác để tham gia ý kiến. Trường hợp đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết có sự giao thoa lĩnh vực do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách thì Thường trực Ủy ban Pháp luật đề xuất cơ quan thẩm tra để báo cáo Phó b) Ủy ban Pháp luật chủ trì thẩm tra và xây dựng báo cáo thẩm tra về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết; báo cáo thẩm tra phải phản ảnh ý kiến thẩm tra, ý kiến tham gia của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội; c) Căn cứ vào kết quả thẩm tra, Ủy ban Pháp luật chuẩn bị dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (nếu có); d) Tài liệu trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết bao gồm các tài liệu được quy định tại khoản 4 Điều 41 của Quy chế này và dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nếu có); đ) Trình tự Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết để quyết định bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trong trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến để trình Quốc hội xem xét, quyết định việc bổ sung dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. 3. Việc xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo trình tự quy định tại khoản 2 Điều này. 4. Việc xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này được thực hiện như sau: a) Căn cứ vào kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc của b) Trình tự Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, ban hành nghị quyết điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Quy chế này. 5. Thường trực Ủy ban Pháp luật phối hợp với Tổng Thư ký Quốc hội giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuẩn bị nội dung báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Điều 48. Thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

Đối chiếu
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. 2. Cơ quan được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân công chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ đề nghị thành lập Ban soạn thảo theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Quy chế này để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 3. Trình tự Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua nghị quyết thành lập Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Quy chế này.

Điều 52. Quyết định tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật

Đối chiếu
1. Sau khi dự án luật đã được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ nhất, căn cứ tính chất, nội dung của dự án luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, nội dung, phạm vi, thể thức và thời gian lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật. 2. Chậm nhất là 20 ngày trước ngày dự kiến bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật gửi hồ sơ về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời gửi đến cơ quan chủ trì thẩm tra dự án luật để nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến. 3. Hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bao gồm: a) Tờ trình của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân; b) Dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật; c) Dự thảo luật đã được tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và báo cáo dự kiến nội dung lấy ý kiến Nhân dân; d) Tài liệu khác (nếu có). 4. Cơ quan chủ trì thẩm tra dự án luật tổ chức nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. 5. Trình tự Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Quy chế này.

Đã hết Exact Điều trong vault.